May mắn có thật trong sự nghiệp: rất nhiều người kể rằng bước ngoặt lớn nhất của họ đến từ một cuộc gặp tình cờ, một dự án được giao nhầm, một lời giới thiệu không ngờ. Nhưng theo nhà tâm lý học hướng nghiệp John Krumboltz, khả năng gặp và tận dụng những chuyện tình cờ đó phụ thuộc khá nhiều vào hành vi của chính mỗi người. Ông gọi cách tiếp cận này là "tình cờ có chủ đích" (planned happenstance).
Nhìn may mắn một cách tỉnh táo có hai mặt. Một mặt, đừng coi thành công của người khác hoàn toàn là do họ giỏi, vì phần may là có thật và câu chuyện thành công thường giấu nó đi. Mặt khác, đừng coi may mắn là thứ hoàn toàn ngoài tầm tay. Bài này trình bày lý thuyết, năm thói quen làm tăng cơ hội tình cờ, những chỗ cần cẩn thận, và cách áp dụng cho người đi làm.
Lý thuyết "tình cờ có chủ đích"
John D. Krumboltz (1928–2019) là giáo sư Đại học Stanford, nổi tiếng với lý thuyết học tập xã hội trong lựa chọn nghề nghiệp. Năm 1999, cùng Kathleen Mitchell và Al Levin, ông công bố bài viết về "planned happenstance", lập luận rằng những sự kiện không dự đoán được là một phần tất yếu của mọi sự nghiệp, và tư vấn hướng nghiệp nên giúp người ta tạo ra cũng như tận dụng chúng, thay vì cố loại bỏ chúng bằng kế hoạch cứng.
Năm 2004, Krumboltz và Levin viết cuốn sách phổ thông "Luck Is No Accident" (May mắn không phải ngẫu nhiên), kể nhiều câu chuyện của những người có bước ngoặt nghề nghiệp nhờ chuyện tình cờ, và phân tích những gì họ đã làm trước và sau sự kiện đó. Điểm chung không phải là họ được trời ưu ái, mà là họ đã ở đúng chỗ có nhiều chuyện xảy ra, đã để ý, và đã hành động khi cơ hội xuất hiện.
Lý thuyết này đi ngược với kiểu hướng nghiệp truyền thống coi "chưa quyết định được nghề" là vấn đề cần sửa. Krumboltz cho rằng giữ tâm thế mở, ở mức vừa phải, là có ích: người quá chắc chắn về con đường của mình đôi khi bỏ qua những cơ hội không nằm trong kế hoạch.
Năm kỹ năng giúp chuyện tình cờ thành cơ hội
Mitchell, Levin và Krumboltz nêu năm kỹ năng. Bảng dưới diễn giải từng kỹ năng sang hành vi cụ thể của người đi làm:
| Kỹ năng | Nghĩa | Hành vi cụ thể | Dạng lệch cần tránh |
|---|---|---|---|
| Tò mò | Muốn tìm hiểu cái mới | Hỏi người ở phòng ban khác họ làm gì; đọc ngoài lĩnh vực của mình | Tò mò lan man, không đi sâu cái gì |
| Kiên trì | Tiếp tục dù gặp trở ngại | Theo một dự án khó tới khi có kết quả; không bỏ sau lần từ chối đầu | Cố chấp với hướng đã rõ là sai |
| Linh hoạt | Đổi thái độ và hoàn cảnh khi cần | Nhận một vai trò ngoài kế hoạch nếu nó mở ra học hỏi | Đổi hướng liên tục, không có trục |
| Lạc quan | Tin cơ hội mới có thể xảy ra và làm được | Nhìn một biến cố như việc tái cấu trúc cả mặt rủi ro lẫn cơ hội | Lạc quan mù quáng, bỏ qua rủi ro thật |
| Chấp nhận rủi ro | Hành động khi kết quả chưa chắc | Nhận lời nói ở một hội thảo dù chưa từng nói trước đông người | Liều lĩnh không tính toán |
Một ví dụ giả định cho thấy năm kỹ năng phối hợp ra sao. Chị Thu, nhân viên kế toán, tò mò hỏi đồng nghiệp bên kho về cách họ kiểm kê. Vài tháng sau, công ty triển khai phần mềm quản lý kho mới và cần một người hiểu cả kế toán lẫn kho để đối chiếu số liệu. Chị được nghĩ tới đầu tiên. Dự án khó, chị kiên trì theo tới cuối, linh hoạt nhận thêm việc ngoài mô tả công việc, và chấp nhận rủi ro làm sai trước nhiều phòng ban. Hai năm sau, chị là người phụ trách mảng kiểm soát tồn kho. Nhìn từ ngoài, đó là may; nhìn từ trong, đó là một chuỗi hành vi.
Cột cuối là phần quan trọng để đọc lý thuyết cho tỉnh táo. Mỗi kỹ năng đều có dạng lệch, và lệch theo hướng nào thì phụ thuộc vào tính cách từng người. Người vốn đã thích phiêu lưu cần cẩn thận với rủi ro; người vốn đã thận trọng có thể cần đẩy mình thêm một chút ở chiều chấp nhận rủi ro.
Vì sao có người "hay gặp may" hơn
Nhà tâm lý học Richard Wiseman ở Anh từng nghiên cứu những người tự nhận mình may mắn và những người tự nhận mình xui xẻo, và kể lại kết quả trong cuốn sách phổ thông "The Luck Factor" đầu thập niên 2000. Trong một thí nghiệm nổi tiếng, ông đưa cho người tham gia một tờ báo và nhờ đếm số ảnh trong đó. Trong báo có một mẩu thông báo khá lớn cho biết luôn đáp án. Nhóm tự nhận may mắn có xu hướng nhìn thấy mẩu thông báo đó nhiều hơn; nhóm tự nhận xui xẻo thường mải đếm và bỏ qua.
Wiseman diễn giải rằng những người tự thấy may mắn thường thả lỏng hơn, nhìn rộng hơn, và vì thế nhận ra cơ hội mà người căng thẳng, tập trung hẹp bỏ lỡ. Kết quả này nên đọc như một gợi ý về hành vi chứ không phải bằng chứng chắc chắn về một "tính cách may mắn"; nhưng nó khớp với lập luận của Krumboltz: phần lớn may mắn trong sự nghiệp nằm ở chỗ để ý và hành động.
Trong đời sống công sở, điều này thể hiện ở những chi tiết nhỏ: người hay nói chuyện với đồng nghiệp ngoài nhóm biết sớm về dự án mới; người hay nhận lời đi sự kiện ngành có nhiều cuộc gặp tình cờ hơn; người giữ liên lạc nhẹ nhàng với đồng nghiệp cũ có nhiều lời giới thiệu hơn. Những quan hệ lỏng, không thân thiết lắm, thường là nguồn thông tin mới, điều mà nghiên cứu về mạng lưới xã hội đã bàn nhiều.
Những cách làm tăng số lần tình cờ có ích
Không ai sắp xếp được may mắn, nhưng có thể tăng số lần mình đứng ở chỗ có nhiều chuyện xảy ra. Một số cách thực tế:
- Nhận việc có tiếp xúc rộng. Dự án liên phòng ban, vai trò điều phối, làm việc với khách hàng đem lại nhiều cuộc gặp hơn ngồi một chỗ làm việc chuyên môn.
- Nói ra điều mình quan tâm. Người khác không giới thiệu cơ hội cho bạn nếu không biết bạn muốn gì. Một câu nói tự nhiên với đồng nghiệp hay người quen, như "mình đang muốn tìm hiểu mảng dữ liệu", có thể quay lại thành lời mời vài tháng sau.
- Nhận lời nhiều hơn một chút. Lời mời đi hội thảo, nói chuyện ở trường cũ, tham gia nhóm làm thử một sáng kiến mới. Không phải lời mời nào cũng đáng, nhưng người luôn từ chối sẽ có ít cuộc gặp tình cờ.
- Theo đuổi một mối quan tâm ngoài công việc. Nhiều bước ngoặt đến từ chỗ không liên quan: một câu lạc bộ, một lớp học, một nhóm thiện nguyện nơi gặp người trong ngành khác.
- Giữ liên lạc nhẹ với người cũ. Một lời chúc mừng khi đồng nghiệp cũ lên vị trí mới, một tin nhắn hỏi thăm sau vài năm. Không cần nhờ vả gì.
- Làm thật tốt những việc nhỏ được giao bất ngờ. Nhiều câu chuyện bước ngoặt bắt đầu bằng một việc nhỏ ai cũng né mà một người nhận và làm chỉn chu, khiến người quan trọng chú ý.
Danh sách này không đòi hỏi làm tất cả. Chọn một hai cách hợp với tính cách và hoàn cảnh, làm đều đặn trong một năm, rồi nhìn lại xem số cuộc gặp, lời mời, thông tin mới có tăng lên không.
Nhìn may mắn tỉnh táo: những chỗ cần cẩn thận
Thiên kiến người sống sót. Ta nghe nhiều câu chuyện người nhận một lời mời liều lĩnh rồi thành công, nhưng ít nghe câu chuyện những người làm y như vậy mà không thành. Câu chuyện thành công không chứng minh rằng hành động đó luôn đúng.
May mắn không chia đều. Người sinh ra ở thành phố lớn, có gia đình hỗ trợ tài chính, có mạng lưới từ trường học tốt có nhiều cơ hội tình cờ hơn, và chịu được rủi ro nhiều hơn. Thừa nhận điều đó không phải là than vãn mà là để tính toán thực tế: người ít đệm an toàn nên chấp nhận rủi ro nhỏ hơn và chuẩn bị kỹ hơn.
Không thay được năng lực. Cơ hội tình cờ chỉ có ích khi bạn đủ sức nhận nó. Một lời mời làm trưởng dự án đến bất ngờ sẽ thành gánh nặng nếu bạn chưa có nền tảng. Krumboltz nhấn mạnh hành động sau sự kiện cũng quan trọng như sự kiện.
Đừng dùng may mắn để giải thích mọi thất bại. Có những năm thật sự xui: công ty đóng cửa, ngành gặp khủng hoảng. Nhưng nếu mọi lần không thành đều được gán cho xui, ta mất cơ hội học từ phần mình làm chưa tốt.
Kết hợp kế hoạch với tình cờ
Nhiều người hỏi: nếu may mắn quan trọng vậy, có cần lập kế hoạch sự nghiệp nữa không? Câu trả lời là cần, nhưng kế hoạch nên có chỗ cho tình cờ. Một kế hoạch theo hướng, có vài kịch bản, có những việc chuẩn bị dùng chung, sẽ hấp thụ được những cơ hội bất ngờ tốt hơn một lịch trình cứng từng năm.
Một cách làm cụ thể: trong lần rà soát sự nghiệp hằng năm, thêm một câu hỏi "năm qua có chuyện tình cờ nào mở ra điều mới cho mình không, và mình đã phản ứng thế nào". Nhìn lại câu trả lời qua vài năm, bạn sẽ thấy mình thường bỏ lỡ cơ hội vì lý do gì: không để ý, ngại rủi ro, hay đã quá bận với kế hoạch cũ. Đó là thông tin để chỉnh hành vi trong năm tới.
Cuối cùng, nên nhớ rằng tình cờ có chủ đích không đòi hỏi mọi người phải trở nên hướng ngoại hay phiêu lưu. Người trầm tính vẫn tạo được nhiều cơ hội bằng những cách phù hợp với mình: viết chia sẻ chuyên môn, trò chuyện một-một sâu thay vì đi nhiều sự kiện đông người, giữ liên lạc đều với một nhóm nhỏ người tin cậy.
Câu hỏi thường gặp
Thuyết tình cờ có chủ đích có cơ sở nghiên cứu không?
Nó được xây trên lý thuyết học tập xã hội trong lựa chọn nghề nghiệp mà Krumboltz phát triển từ nhiều thập kỷ trước, và được dùng rộng trong tư vấn hướng nghiệp. Tuy vậy, phần lớn bằng chứng ủng hộ là các nghiên cứu mô tả và kinh nghiệm tư vấn, nên nên coi nó là khung tư duy hữu ích hơn là quy luật đã được chứng minh chặt chẽ.
Người hướng nội có áp dụng được không?
Được. Năm kỹ năng tò mò, kiên trì, linh hoạt, lạc quan và chấp nhận rủi ro không đòi hỏi phải thích đám đông. Người hướng nội có thể tạo cơ hội qua viết chia sẻ chuyên môn, gặp gỡ một-một, giữ liên lạc với một nhóm nhỏ người tin cậy.
Làm sao biết một cơ hội tình cờ đáng nhận hay nên từ chối?
Hỏi ba câu: nó có giúp mình học hoặc gặp người mới không, rủi ro tệ nhất là gì và mình chịu được không, nó có làm hỏng cam kết hiện tại không. Nếu học được nhiều, rủi ro chịu được và không bỏ dở cam kết, thường đáng thử.
May mắn có phải chỉ là cách nói khác của quan hệ?
Một phần. Nhiều cơ hội tình cờ đến qua người quen, nhất là những quan hệ lỏng. Nhưng may mắn còn đến từ việc được giao một dự án bất ngờ, từ thay đổi của thị trường, từ một kỹ năng tự học trở nên có giá. Quan hệ là một kênh lớn, không phải kênh duy nhất.
Có nên kể yếu tố may mắn khi phỏng vấn hay viết hồ sơ không?
Có thể kể một cách trung thực, nhưng nên nhấn vào phần bạn đã làm sau sự kiện tình cờ: đã nhận việc gì, đã học gì, đã tạo ra kết quả gì. Nhà tuyển dụng quan tâm cách bạn tận dụng cơ hội hơn là cơ hội tự nó.