Vốn sự nghiệp (career capital) là tổng những thứ hiếm và có giá trị mà một người tích luỹ được qua công việc, và mang theo được khi đổi chỗ làm: kỹ năng chuyên môn khó thay thế, uy tín về kết quả, và quan hệ với những người tin vào năng lực của họ. Vốn càng nhiều, người đó càng có quyền chọn: chọn việc, chọn cách làm, chọn nơi làm, chọn nhịp sống.
Khái niệm này được biết đến rộng rãi qua cuốn sách năm 2012 của Cal Newport, một giảng viên khoa học máy tính người Mỹ, với lập luận rằng người ta thường yêu công việc sau khi đã giỏi nó, chứ không phải giỏi nó vì đã yêu từ đầu. Trước đó, giới nghiên cứu sự nghiệp cũng đã nói tới những dạng vốn tương tự. Bài này giải thích khái niệm, các dạng vốn, cách tích luỹ và những cái bẫy khi đem vốn ra dùng.
Lập luận gốc: giỏi trước, thích sau
Trong cuốn "So Good They Can't Ignore You", Newport phản bác lời khuyên quen thuộc "hãy theo đuổi đam mê". Ông cho rằng phần lớn người trẻ chưa có một đam mê nghề nghiệp rõ ràng để theo, và ép mình đi tìm đam mê dễ dẫn tới nhảy việc liên tục, lúc nào cũng thấy công việc hiện tại "chưa phải là nó".
Thay vào đó, ông đề xuất "tư duy người thợ": tập trung vào việc làm cho thật giỏi, tạo ra giá trị mà người khác không bỏ qua được. Những phẩm chất khiến người ta yêu công việc, như được tự chủ, thấy mình giỏi, có ảnh hưởng, đều là thứ phải đổi bằng vốn. Người chưa có vốn mà đòi tự chủ thường không nhận được, hoặc nhận được rồi không giữ nổi.
Cần đọc lập luận này cho tỉnh táo. Nó không nói rằng sở thích không quan trọng; người ghét một nghề thì khó luyện tới mức giỏi. Nó nói rằng sở thích ban đầu thường mờ nhạt và lớn lên cùng năng lực. Với người đã đi làm vài năm, thông điệp thực tế là: thay vì hỏi "công việc này có phải đam mê của mình không", hãy hỏi "công việc này đang cho mình vốn gì".
Ba dạng vốn sự nghiệp
Giới nghiên cứu sự nghiệp, tiêu biểu là DeFillippi và Arthur (1994), từng chia năng lực mang đi được của người lao động thành ba "cách biết". Ghép với cách nhìn của Newport, có thể chia vốn thành ba dạng:
| Dạng vốn | Gồm những gì | Ví dụ | Cách nhận ra mình có |
|---|---|---|---|
| Biết làm (kỹ năng) | Kỹ năng chuyên môn, hiểu biết ngành, cách giải quyết loại vấn đề cụ thể | Đọc được báo cáo tài chính của doanh nghiệp sản xuất và chỉ ra chỗ giá thành bất thường | Người khác mang vấn đề khó đến cho bạn |
| Biết ai (quan hệ, uy tín) | Những người biết bạn làm tốt việc gì và sẵn lòng nói điều đó | Sếp cũ chủ động giới thiệu bạn khi có vị trí phù hợp | Có cơ hội đến mà bạn không phải đi tìm |
| Biết vì sao (định hướng) | Hiểu rõ mình muốn gì, giá trị nào quan trọng, động lực bền | Từ chối một lời mời lương cao vì nó lệch hướng đã chọn | Ra quyết định nhanh, ít hối tiếc |
Phần lớn người đi làm chỉ đếm dạng thứ nhất. Dạng thứ hai thường bị xem nhẹ, nhưng trên thực tế nhiều bước tiến lớn trong sự nghiệp đến từ đó. Dạng thứ ba khó đo nhất, nhưng thiếu nó thì hai dạng còn lại dễ bị tiêu vào những lựa chọn không dẫn tới đâu.
Một điểm cần nhớ: vốn chỉ có giá trị khi nó hiếm và được cần. Thành thạo một phần mềm văn phòng phổ biến là kỹ năng hữu ích, nhưng không phải vốn đáng kể vì rất nhiều người có. Biết kết hợp hai lĩnh vực ít người cùng giỏi, như kế toán và lập trình dữ liệu, thường là vốn lớn hơn giỏi riêng một thứ.
Cách tích luỹ vốn khi đang đi làm
Vốn không tự sinh ra theo số năm làm việc. Mười năm làm lặp lại một việc dễ có thể chỉ cho vốn bằng ba năm. Những cách tích luỹ có chủ đích:
- Giành việc khó hơn mức hiện tại một chút. Việc làm được dễ dàng không tạo vốn mới. Việc vượt quá sức một chút, có người góp ý, mới làm kỹ năng lớn lên.
- Chọn kỹ năng theo độ hiếm, không theo độ hot. Đọc tin tuyển dụng vị trí cao hơn một hai bậc, tìm những yêu cầu ít người đáp ứng. Hỏi người tuyển dụng trong ngành xem họ khó tìm người có gì.
- Biến kết quả thành thứ người khác thấy được. Một dự án tốt mà chỉ mình biết thì chỉ là kỹ năng; khi được ghi nhận, nó mới thành uy tín.
- Làm việc gần người giỏi. Vốn quan hệ và kỹ năng tăng nhanh nhất khi được làm cùng người giỏi hơn mình. Đôi khi nên chọn công ty vì có những người đó, dù lương không cao nhất.
- Ghi lại và đóng gói. Viết lại cách mình giải một loại vấn đề, dạy lại cho người mới. Kiến thức được đóng gói thì mang đi được, và chứng minh được.
- Tránh những năm "đứng yên mà bận". Mỗi năm tự hỏi: năm nay mình có thêm vốn gì mà năm ngoái chưa có. Nếu không trả lời được hai năm liền, môi trường có vấn đề.
Newport gọi cách luyện tập có chủ đích là luyện tập cố ý, dựa trên các nghiên cứu về chuyên môn của Anders Ericsson. Ý chính dễ áp dụng: chọn một phần kỹ năng cụ thể, làm nó ở mức hơi quá sức, nhận phản hồi nhanh, và lặp lại. Người đi làm ít khi có huấn luyện viên, nên phản hồi thường phải tự tạo: nhờ người giỏi xem lại, so sản phẩm của mình với sản phẩm tốt nhất mình tìm được.
Kiểm kê vốn của mình trong nửa giờ
Trước khi tính bước tiếp theo, nên biết mình đang có gì trong tay. Một cách kiểm kê đơn giản, làm trên giấy:
- Liệt kê năm loại vấn đề bạn giải được tốt hơn phần lớn người cùng cấp. Viết bằng vấn đề, không bằng tên kỹ năng: "tìm ra vì sao tồn kho lệch sổ" rõ hơn "kỹ năng phân tích".
- Đánh dấu độ hiếm cho từng loại: trong công ty có bao nhiêu người làm được, ngoài thị trường có hay thấy tin tuyển dụng đòi đúng việc đó không.
- Viết tên ba đến năm người sẵn sàng nói tốt về năng lực của bạn một cách cụ thể nếu được hỏi. Nếu khó nghĩ ra tên nào ngoài sếp hiện tại, vốn quan hệ đang mỏng.
- Ghi một câu về hướng đi: bạn muốn dùng vốn này để đổi lấy điều gì trong vài năm tới, như việc khó hơn, nhiều tự chủ hơn hay thu nhập cao hơn.
- Khoanh chỗ yếu nhất trong ba dạng vốn, và chọn một việc nhỏ cho quý này để bồi đắp nó.
Kết quả kiểm kê thường cho thấy một điều: phần lớn người đi làm có vốn kỹ năng nhiều hơn họ nghĩ, nhưng vốn quan hệ và định hướng ít hơn họ nghĩ. Đó cũng là hai dạng dễ bồi đắp hơn trong ngắn hạn, vì chúng phụ thuộc vào việc chủ động gặp gỡ, kể lại kết quả và suy nghĩ có chủ đích, chứ không đòi nhiều năm luyện tập.
Đem vốn ra dùng: đổi lấy gì, và hai cái bẫy
Vốn đổi được lấy gì. Tự chủ cao hơn (chọn cách làm, giờ làm, nơi làm), việc có ảnh hưởng lớn hơn, thu nhập tốt hơn, và quyền từ chối những việc không muốn làm. Thứ người ta hay quên là vốn cũng đổi được lấy thời gian: người có vốn lớn có thể thương lượng làm bốn ngày một tuần hay làm từ xa, điều người mới vào nghề khó đòi được.
Bẫy thứ nhất: đòi tự chủ khi chưa đủ vốn. Bỏ việc để làm tự do khi chưa có kỹ năng đủ hiếm và chưa có ai sẵn sàng trả tiền thường dẫn tới việc nhận mọi dự án với giá thấp, mất tự chủ còn nhiều hơn lúc đi làm. Một cách kiểm mà Newport đề xuất: thứ bạn muốn làm có người sẵn sàng trả tiền cho nó chưa. Nếu chưa, có thể vốn chưa đủ.
Bẫy thứ hai: có vốn rồi nhưng bị giữ lại. Khi bạn đã giỏi, công ty thường muốn bạn tiếp tục làm đúng việc đó, vì đó là lợi ích của họ. Đề nghị tự chủ hơn, như chuyển sang việc khác hay làm theo cách khác, có thể gặp phản đối. Lúc này cần phân biệt phản đối vì đề nghị chưa chín với phản đối chỉ vì muốn giữ bạn ở chỗ cũ.
Đừng tiêu vốn quá sớm. Một số người vừa có chút vốn đã đem đổi hết lấy một mức lương cao ở công ty không giúp tích thêm vốn. Vài năm sau, họ có thu nhập tốt nhưng không còn vốn mới, và lúc thị trường đổi thì bị động.
Vốn sự nghiệp ở bối cảnh Việt Nam
Ở nhiều ngành tại Việt Nam, dạng vốn "biết ai" có sức nặng lớn, đôi khi lớn hơn mức hợp lý. Điều này làm nhiều người nản, nghĩ rằng giỏi cũng không bằng quen. Nhưng nhìn kỹ, quan hệ có giá trị lâu dài là quan hệ dựa trên năng lực đã được thấy: người giới thiệu bạn thường làm vậy vì từng thấy bạn làm tốt. Quan hệ không dựa trên năng lực thì mong manh và dễ mất khi người đỡ đầu rời đi.
Bối cảnh thứ hai là thị trường lao động thay đổi nhanh theo dòng đầu tư, chuỗi cung ứng và công nghệ. Những kỹ năng gắn với một phần mềm, một quy trình riêng của một công ty dễ mất giá khi công ty đổi hệ thống. Vốn bền hơn là hiểu biết về bản chất công việc: vì sao quy trình được thiết kế như vậy, rủi ro nằm ở đâu, khách hàng thật sự cần gì.
Bối cảnh thứ ba là ngoại ngữ. Ở nhiều ngành, khả năng làm việc bằng tiếng Anh hoặc một ngoại ngữ khác nhân giá trị của mọi kỹ năng khác, vì nó mở ra những công ty, dự án và đối tác mà người chỉ dùng tiếng Việt không với tới. Đây là dạng vốn mà nhiều người trì hoãn mãi, rồi tiếc khi cơ hội đến mà không đủ sức nhận.
Câu hỏi thường gặp
Vốn sự nghiệp khác gì kinh nghiệm?
Kinh nghiệm đo bằng số năm; vốn đo bằng những gì hiếm và có giá trị mà số năm đó tạo ra. Hai người cùng mười năm có thể có vốn rất khác nhau, tuỳ họ đã làm lặp lại việc dễ hay liên tục nhận việc khó hơn.
Có nên bỏ công việc hiện tại nếu nó không phải đam mê?
Câu hỏi hữu ích hơn là công việc đó có đang cho bạn vốn gì không. Nếu nó đang giúp bạn tích kỹ năng hiếm và uy tín, có thể sự thích thú sẽ đến khi bạn giỏi hơn. Nếu nó không cho vốn mới trong một hai năm, đó mới là lý do đáng cân nhắc rời đi.
Làm sao biết kỹ năng của mình có hiếm không?
Đọc tin tuyển dụng vị trí cao hơn một bậc, hỏi người làm tuyển dụng trong ngành xem họ khó tìm người có gì, và để ý xem bao nhiêu đồng nghiệp làm được việc bạn làm. Nếu ai trong nhóm cũng làm được, đó là kỹ năng nền chứ chưa phải vốn hiếm.
Đang ở công ty nhỏ có tích được vốn không?
Có, theo kiểu khác. Công ty nhỏ thường cho phạm vi việc rộng và tiếp xúc với nhiều mảng sớm, rất tốt cho vốn tổng quát và khả năng tự xoay xở. Cái thiếu có thể là chiều sâu chuyên môn và quy trình bài bản; có thể bù bằng học thêm hoặc sau vài năm chuyển sang môi trường lớn hơn.
Vốn sự nghiệp có mất đi không?
Có. Kỹ năng mất giá khi ngành đổi công nghệ, uy tín phai khi lâu không có kết quả mới, quan hệ nhạt khi không giữ liên lạc. Vì vậy cần vừa tích vốn mới vừa bảo trì vốn cũ, nhất là ở giữa sự nghiệp.